Bỏ qua điều hướng
Bản dịch máy —
Gia Hoàng Nhập khẩu hóa chất & Giải pháp môi trường
Yêu cầu báo giá
PAC

Cách tính liều PAC theo độ đục (NTU) và công thức bơm định lượng: từ số NTU đến bao PAC mỗi ngày

Vấn đề: pha quá tay tốn tiền, pha non nước vẫn đục

Pha quá tay thì tốn tiền, bùn nhiều, nhôm dư trong nước sau xử lý. Pha non thì nước không trong, người vận hành ca sau lại phải châm thêm, cả trạm chập chờn theo. Vấn đề phần lớn không nằm ở bột PAC tốt hay xấu, mà nằm ở con số liều chưa chốt đúng cho mẫu nước của chính trạm mình. Bài này đi trọn một mạch tính toán để bấm máy ra số dùng ngay: từ số NTU đo được suy ra liều mg/L khởi điểm, chốt liều bằng thí nghiệm cốc (jar-test), rồi đổi liều đó sang lưu lượng bơm L/h, sang bồn pha bao nhiêu kg, sang mỗi ngày hết mấy bao 25 kg.

Nhiều trạm đang làm theo thói quen tra bảng liều chung rồi giữ nguyên cả năm. Cách đó chỉ đúng một nửa. Bảng tra cho điểm xuất phát để khỏi mò mẫm, nhưng nước thô mỗi trạm khác nhau về chất hữu cơ, độ kiềm, pH và nhiệt độ, lại đổi theo mùa. Một công thức thực nghiệm trên nguồn nước khác chỉ đúng gần đúng cho trạm mình, sai số có thể tới khoảng 16 đến 18% so với vận hành thực. Vì vậy nguyên tắc của bài này rất rõ: bảng là chỗ bắt đầu, thí nghiệm cốc trên mẫu nước của mình là chỗ chốt, công thức bơm là chỗ đưa số ra hiện trường.

Tra bảng là đủ, có đúng không

Câu trả lời thẳng là chưa đủ. Bảng liều theo độ đục giúp người mới có gradient để thử, ví dụ nước dưới 20 NTU bắt đầu quanh 10 mg/L, nước 20–50 NTU bắt đầu quanh 20 mg/L, rồi tăng dần theo các nấc. Nhưng hai trạm cùng 80 NTU có thể chốt hai liều khác nhau vì pH, độ kiềm và bản chất cặn lơ lửng khác nhau. Người vận hành có kinh nghiệm coi bảng là vạch xuất phát của dãy cốc thí nghiệm, không coi là đáp số cuối cùng. Bỏ qua thí nghiệm cốc thì bơm chạy theo con số may rủi, hôm nước đổi là cả dây chuyền lệch theo.

NTU là gì và đo thế nào cho đúng

NTU là đơn vị đo độ đục, phản ánh lượng hạt lơ lửng làm tán xạ ánh sáng trong nước. Số này đo bằng máy đo độ đục (turbidity meter), lấy mẫu nước thô đầu vào và nước sau lắng để so sánh. Vào mùa mưa, nước mặt đổ về mang theo phù sa và chất lơ lửng, độ đục có thể tăng gấp 2–3 lần so với mùa khô, có nơi ghi nhận đục cao tập trung vào các tháng mùa mưa trong năm. Khi NTU thô tăng gấp 2–3 lần hoặc khi đổi nguồn nước, trạm cần chạy lại thí nghiệm cốc để chốt liều mới, không giữ liều cũ.

Bảng liều khởi điểm theo NTU để bắt đầu dãy cốc

Bảng dưới đây tổng hợp từ nhiều nguồn trong nước và tài liệu kỹ thuật quốc tế, quy về PAC hàm lượng khoảng 30%, dùng làm điểm xuất phát. Chọn nấc đúng với NTU của mình rồi mở rộng thành dãy 6 cốc quanh đó, sau đó chốt bằng kết quả đo đục thực tế. Mọi con số trong bảng đều là liều khởi điểm, không phải liều vận hành cuối cùng.

Độ đục nước thô (NTU)Liều PAC khởi điểm (mg/L)Kỳ vọng nước sau xử lý
Dưới 2010Dưới 1 NTU
20–5020Dưới 1 NTU
50–10030Dưới 2 NTU
100–20040Dưới 2 NTU
200–50050Dưới 5 NTU
Trên 50060Dưới 5 NTU

Khoảng kỳ vọng nước sau xử lý trong bảng lấy theo dải hiệu quả thường gặp: nước thô dưới 50 NTU xử lý tốt có thể về dưới 1 NTU, dải 50–200 NTU về dưới 2 NTU, dải đục cao về dưới 5 NTU. Có nghiên cứu ghi nhận nước thô 41,1 NTU về 1,65 NTU ở liều tối ưu; nước thô trung bình 58,3 NTU về 1,1–5,0 NTU ở liều 30 mg/L với hiệu quả giảm đục khoảng 94,5%. Trạm cấp nước sinh hoạt thường đặt mục tiêu nước sau lọc dưới 1–2 NTU; trạm xử lý nướcTrang thông tin, hình ảnh, video về xử lý nước.
Các bài viết, tin tức, thảo luận liên quan đến xử lý nước.
thải đặt mục tiêu nước trong và tách bông tốt trước khi sang bể lắng.

Vì sao bảng chỉ là điểm xuất phát? Thứ nhất, liều PAC chịu ảnh hưởng đồng thời của độ đục, pH, độ kiềm và nhiệt độ, liều có xu hướng tăng theo đục, pH và kiềm, giảm khi nhiệt độ tăng. Thứ hai, mỗi nguồn nước có bản chất hạt keo khác nhau nên điểm trung hòa điện tích khác nhau. Thứ ba, cùng một NTU nhưng mùa mưa và mùa khô cho đáp số khác nhau. Hiểu điều này thì không giữ một liều cho cả năm, mà tính lại khi nước đổi.

Kỹ sư đo độ đục NTU cạnh bồn pha PAC và bơm định lượng
Đo NTU nước thô là điểm bắt đầu của mọi phép tính liều PAC

Muốn xem cách xác định liều theo loại nước và quy trình thí nghiệm tổng quát, đọc thêm hướng dẫn xác định liều lượng PAC đúng cách để đối chiếu, còn bài này đi sâu vào tính từ số NTU ra số bơm.

Bước 1: từ NTU ra liều mg/L bằng thí nghiệm cốc

Có số NTU rồi, việc tiếp theo là biến nó thành liều mg/L đáng tin. Cách duy nhất được giới chuyên môn thừa nhận là thí nghiệm cốc (jar-test) trên mẫu nước của chính trạm, thực hiện theo trình tự chuẩn của phương pháp ASTM D2035 với 6 cốc song song. Làm đúng một lần, trạm có đáp số để chạy nhiều tháng, chỉ tính lại khi nước đổi rõ rệt.

Pha dung dịch stock 1% cho thí nghiệm cốc

Thí nghiệm cốc cần một dung dịch chuẩn loãng để châm chính xác từng mL. Cách pha chuẩn: hòa 10 g PAC lỏng hoặc 1 g PAC bột vào nước cất rồi định mức thành 1 L, thu được dung dịch 1% tương đương 10.000 mg/L tính theo sản phẩm. Với PAC có hàm lượng khoảng 18% tính theo nhôm oxit (Al2O3), nồng độ này tương đương khoảng 1.800 mg/L tính theo Al2O3. Dung dịch chuẩn loãng theo quan hệ C1V1 = C2V2: mỗi 1 mL dung dịch 1% châm vào 1 L mẫu nước tương đương 10 mg/L. Nhờ đó chỉ cần pipet châm 0,5 mL, 1 mL, 2 mL là có ngay các nấc 5, 10, 20 mg/L mà không cần cân từng cốc. Cân dùng cho bước pha stock cần chính xác tới 0,01 g; dung dịch stock pha xong dùng trong ngày, không để qua đêm vì để lâu dễ thủy phân làm giảm hiệu quả.

Thiết kế dãy 6 cốc theo dải NTU của trạm

Nguyên tắc là thử 6 mức liều bao quanh điểm dự đoán, để liều tối ưu rơi vào giữa dãy chứ không rơi ở cốc biên. Bảng dưới đây là khung gradient được nhiều tài liệu kỹ thuật dùng cho đánh giá lần đầu, chọn một hàng đúng với NTU của mình.

Nước thôDãy 6 mức liều thử (mg/L)
Dưới 20 NTU2, 5, 10, 15, 20, 30
20–100 NTU5, 10, 20, 30, 50, 70
Trên 100 NTU10, 20, 40, 60, 80, 100

Ví dụ trạm đo được 80 NTU thì chọn hàng giữa: pha 6 cốc 1 L với 6 mức 5–70 mg/L. Trạm nước cấp đục thấp dưới 20 NTU thì chọn hàng đầu, vì liều tối ưu nhóm này thường chỉ quanh 10–15 mg/L, thử lên tới 100 mg/L là lãng phí và dễ vượt qua điểm đảo điện tích. Có nghiên cứu cho nước 10–200 NTU chốt tối ưu quanh 10 mg/L, nước 500 NTU quanh 20 mg/L, nước 1.000 NTU quanh 30 mg/L: nước càng đục liều càng tăng nhưng không tăng tuyến tính.

Cách khuấy và lắng: nhanh 200–300 rpm trong 60 giây, chậm 30–40 rpm trong 20 phút, lắng 30 phút

Trình tự chuẩn cho 6 cốc 1.000 mL gồm ba chặng. Khuấy nhanh 200–300 rpm trong 60 giây để hóa chất phân tán đều và va chạm với hạt keo (có tài liệu dùng 200–250 rpm trong 60 giây vẫn đạt). Khuấy chậm 30–40 rpm trong 20 phút để bông cặn lớn dần mà không vỡ (có nơi dùng 40 rpm trong 20 phút). Sau đó để lắng tĩnh 30 phút rồi lấy nước mặt từng cốc đo lại độ đục bằng máy. Toàn bộ quá trình giữ nguyên pH và nhiệt độ của mẫu nước gốc, không điều chỉnh trước khi thử để kết quả phản ánh đúng hiện trường.

Chốt liều: cốc nào nước trong nhất thì thắng, không phải cốc nào bông to nhất

Đây là điểm người mới hay nhầm nhất. Liều tối ưu là cốc có độ đục sau lắng thấp nhất đo bằng máy, không phải cốc có bông cặn nhìn to nhất. Bông to nhất thường xuất hiện ở vùng đã vượt liều: nhìn to và lắng nhanh nhưng nước mặt vẫn đục do hạt mịn đã bị tái ổn định và không chịu lắng. Vì vậy bắt buộc đo đục từng cốc, không chấm bằng mắt. Nếu hai liều kề nhau cho độ đục thấp tương đương thì chọn liều thấp hơn để tiết kiệm hóa chất và giảm bùn. Khi đổi sang dòng PAC có hàm lượng khác, ghi rõ hàm lượng trong báo cáo thí nghiệm và quy đổi theo Al2O3: PAC 10% nhân khoảng 2,5 lần so với liều chuẩn; PAC 17% nhân khoảng 1,8 lần.

Biên an toàn liều: vận hành thấp hơn điểm đảo điện tích 10–15%

Trên dãy 6 cốc sẽ thấy độ đục giảm dần tới một điểm thấp nhất rồi tăng trở lại ở các cốc liều cao, tạo thành đường cong chữ U. Điểm mà độ đục tăng vọt trở lại là ngưỡng quá liều do đảo điện tích, đánh dấu làm liều tối đa tuyệt đối. Liều vận hành hằng ngày lấy thấp hơn ngưỡng đó 10–15%. Cách trừ hao này giúp trạm đứng vững khi nước đầu vào dao động nhẹ mà không rơi vào vùng quá liều, đồng thời giảm lượng nhôm dư và bùn phát sinh.

Đọc đường cong theo cơ chế, không chỉ nhìn điểm thấp nhất

Kết quả 6 cốc còn cho biết trạm đang chạy ở cơ chế nào. Cơ chế trung hòa điện tích dùng lượng hóa chất chỉ bằng khoảng 1/3 so với cơ chế quét bông (sweep floc), tiết kiệm rõ rệt nhưng cửa vận hành hẹp, lệch một chút là nước đục lại. Cơ chế quét bông tốn hóa chất hơn nhưng ổn định, chịu được sai số liều, bông to và lắng nhanh. Đa số trạm cấp nước và xử lý nướcTrang thông tin, hình ảnh, video về xử lý nước.
Các bài viết, tin tức, thảo luận liên quan đến xử lý nước.
thải vận hành ở cơ chế quét bông một cách chủ ý vì cần sự ổn định cho ca trực. Kỹ năng đọc thật sự nằm ở hình dạng đường cong chứ không chỉ ở điểm thấp nhất: đường cong dốc và hẹp là trung hòa điện tích; đường cong thoải và đáy rộng là quét bông. Trạm nào nhiều ca kíp, nước đầu vào dao động, nên giữ ở quét bông cho yên tâm.

Đo pH sau thí nghiệm, vì pH cuối quan trọng hơn pH đầu

Nhiều trạm chỉ đo pH nước thô rồi thôi, như vậy là thiếu. Châm PAC làm pH giảm, mức giảm tùy liều và độ kiềm của nước, nên pH sau phản ứng mới là con số quyết định bông có bền hay không. Dải pH tối ưu cho PAC thường nằm trong khoảng 6,0–8,0. Có nghiên cứu cho nước thô 10–30 NTU đạt tối ưu ở liều 15 mg/L tại pH 7,5–8,0, trong khi châm quá 20 mg/L tại pH 6,0 lại làm đục và màu tăng vì bề mặt hạt keo bão hòa ion nhôm mang điện dương rồi đẩy nhau. Vì vậy mỗi cốc sau khi lắng cần đo cả đục và pH, ghi song song hai số. Trạm nào pH nước thô thấp và kiềm yếu cần theo dõi pH cuối kỹ hơn; khi cần nâng pH bằng soda trước khi chốt liều cuối.

Dãy 6 cốc thí nghiệm PAC và máy đo độ đục
Thí nghiệm 6 cốc cho đáp số liều mg/L đúng với mẫu nước của trạm

Bước 2: từ mg/L ra bơm L/h, bồn pha và bao mỗi ngày

Có liều mg/L trong tay rồi, câu hỏi tiếp theo của ca trực luôn là: bơm đang chạy bao nhiêu L/h, bồn pha bao nhiêu kg, mỗi ngày hết mấy bao. Mục này bấm máy ra từng số, chỉ việc thay số của trạm mình vào. Mọi công thức dưới đây đã được đối chiếu chéo từ ba nguồn độc lập nên dùng tự tin.

Công thức bơm định lượng: q = Dose × Q / S

Công thức gọn nhất: q (L/h) = liều Dose (mg/L) × lưu lượng nước Q (m³/h) / nồng độ dung dịch châm S (g/L). Bản tương đương của nhiều tài liệu viết là liều × Q × 1.000 / nồng độ PAC (mg/L), hai bản là một vì 1.000 mg/L đúng bằng 1 g/L. Đơn vị cần nhớ: 1 mg/L = 1 g/m³ = 1 kg/1.000 m³, nên đổi qua lại rất nhanh.

Nồng độ dung dịch châm S tra theo bảng khối lượng/thể tích: 2% = 20 g/L; 5% = 50 g/L; 10% = 100 g/L. Với dung dịch pha theo khối lượng/khối lượng: S = 10 × %w/w × tỷ trọng. Sau khi tính ra q, cộng thêm biên an toàn 5–10%, rồi kiểm tra xem q có nằm trong khoảng 30–80% công suất tối đa của bơm hay không. Giữ bơm chạy trong khoảng này giúp độ chính xác cao và còn dư địa tăng giảm khi nước đổi: chạy dưới 30% thì bơm kém chính xác; chạy sát 100% thì mất dự phòng.

Ba ví dụ tính tay, mỗi ví dụ đủ giả thiết – thay số – kết quả – kiểm tra bơm

Ví dụ 1, trạm cấp nước xã lưu lượng 20 m³/h. Giả thiết: nước thô 80 NTU, chốt thí nghiệm cốc ở liều 30 mg/L, châm dung dịch 5% (S = 50 g/L). Thay số: q = 30 × 20 / 50 = 12 L/h. Cộng biên 10% được khoảng 13,2 L/h. Đổi ra mL/phút để kiểm tra thực tế bằng ca đong: 13,2 L/h × 1.000 / 60 = 220 mL/phút. Kiểm tra bơm: nếu bơm có dải 0–20 L/h thì điểm chạy 13,2 L/h rơi vào khoảng 66% tải, nằm gọn trong khoảng 30–80% nên đạt.

Ví dụ 2, khu công nghiệp lưu lượng 100 m³/h dùng PAC lỏng 10%. Giả thiết: liều chốt 20 mg/L, S = 100 g/L. Thay số: q = 20 × 100 / 100 = 20 L/h; cộng biên 5–10% thành 21–22 L/h. Kiểm tra bơm: chọn bơm công suất tối đa khoảng 30 L/h thì điểm chạy 22 L/h rơi vào khoảng 73% tải, đạt. PAC lỏng bơm trực tiếp không cần pha; ghi rõ hàm lượng trong nhật ký để ca sau không nhầm với PAC bột.

Ví dụ 3, dệt nhuộm tải cao lưu lượng 200 m³/h. Giả thiết: liều chốt 35 mg/L, dùng PAC lỏng 10% với S = 100 g/L. Thay số: q = 35 × 200 / 100 = 70 L/h; cộng biên an toàn thành khoảng 73,5–77 L/h. Kiểm tra bơm: cần bơm hoặc cụm bơm công suất tối đa khoảng 100 L/h để điểm chạy rơi vào 70–77% tải. Ghi chú thêm: nước dệt nhuộm khi hàm lượng cặn lơ lửng (SS) cao thì liều có thể lên 30–60 mg/L trở lên tùy chỉ tiêu màu và COD, khi đó tính lại q theo cùng công thức, không giữ số cũ.

Quy đổi khi đổi hàm lượng PAC

Khi trạm đổi từ PAC hàm lượng này sang hàm lượng khác thì liều tính theo sản phẩm phải đổi theo tỷ lệ Al2O3. PAC 10% nhân khoảng 2,5 lần so với liều chuẩn; PAC 17% nhân khoảng 1,8 lần. PAC bột hàm lượng khoảng 30–31% dùng liều chuẩn trong bảng khởi điểm. Mọi báo cáo thí nghiệm cốc cần ghi rõ đang dùng PAC hàm lượng bao nhiêu, tính theo sản phẩm hay tính theo Al2O3, để người tính bơm không nhầm.

Bồn pha: bao nhiêu kg vào bao nhiêu lít

Dung dịch mẹ vận hành thường pha ở 5–10%, khuấy 15–30 phút cho tan hoàn toàn. Không pha loãng dưới 1% để tồn vì dung dịch quá loãng dễ thủy phân làm giảm hiệu quả; có tài liệu khuyến nghị pha loãng sử dụng ở 2–5% và dùng ngay trong ngày. Công thức pha bồn: thể tích dung dịch mẹ = liều (g/m³) × thể tích nước cần xử lý (m³) / (nồng độ % × 10). Cách nhớ nhanh: 100 L dung dịch 5% cần 5 kg bột, vì 5% của 100 L tương đương 5 kg.

Khối lượng bột cho mỗi mẻ = S (g/L) × thể tích bồn (L) / 1.000. Ví dụ bồn 1.000 L pha 5% với S = 50 g/L thì cần 50 × 1.000 / 1.000 = 50 kg bột, tương đương 2 bao 25 kg. PAC lỏng thì bơm trực tiếp không cần pha bồn, chỉ cần tính q theo nồng độ gốc của PAC lỏng đang dùng.

Mỗi ngày hết bao nhiêu lít, bao nhiêu kg, mấy bao 25 kg

Lượng dung dịch tiêu thụ mỗi ngày = q (L/h) × số giờ chạy. Ví dụ bơm 50 L/h chạy 24 giờ thì mỗi ngày hết 1.200 L dung dịch. Khối lượng quy ra kg qua tỷ trọng, dung dịch PAC thường có tỷ trọng khoảng 1,18–1,22 kg/L, lấy 1,20 kg/L để tính nhanh thì 1.200 L tương đương khoảng 1.440 kg dung dịch mỗi ngày.

Với PAC bột: khối lượng bột mỗi ngày = liều (mg/L) × sản lượng (m³/ngày) / 1.000 / phần hàm lượng Al2O3. Ví dụ liều 25 mg/L cho 4.800 m³/ngày: 25 × 4.800 / 1.000 = 120 kg tính theo Al2O3; / 0,30 được 400 kg bột hàm lượng 30%, tương đương 16 bao 25 kg mỗi ngày. Số bao mỗi ngày = số kg mỗi ngày / 25. Trạm nên giữ tồn kho an toàn 7–14 ngày; lượng nhập bổ sung = nhu cầu tháng + tồn an toàn − tồn hiện có. Cách tính này giúp kho không bị động khi mùa mưa tới mà NTU tăng vọt.

Worksheet một dòng để dán tại tủ bơm

Chuỗi tính gọn trong một dòng để chụp ảnh mang ra hiện trường: NTU đo được → liều mg/L chốt bằng cốc → S là nồng độ dung dịch châm (g/L) → q (L/h) = liều × Q / S → L/ngày = q × giờ chạy → kg/ngày qua tỷ trọng hoặc qua hàm lượng Al2O3 → bao/ngày = kg / 25. Người trực chỉ cần điền 3 số của trạm mình là NTU, Q và S, còn lại bấm máy theo thứ tự là ra.

Sơ đồ bồn pha PAC và bơm định lượng châm vào tuyến ống
Từ liều mg/L ra lưu lượng bơm, bồn pha và số bao mỗi ngày trong một mạch tính

Chọn đúng 1 trong 4 dòng PAC của shop theo NTU, màu và pH

Tính ra liều rồi thì câu hỏi còn lại là liều đó châm bằng dòng PAC nào trong kho của shop. Bốn dòng dưới đây khác nhau về hàm lượng, màu sắc và thế mạnh ứng dụng: chọn đúng thì liều tính được phát huy hết; chọn sai thì cùng liều mà nước vẫn kém trong.

Dòng PACĐặc điểm hàm lượngHợp với nước nào
PAC Việt Trì 31%Hàm lượng Al2O3 tối thiểu 30%Nước cấp và nước thải nhẹ
PAC Trung Quốc Vàng Nghệ 31% MINHàm lượng cao, màu vàng nghệNước thải công nghiệp nặng
PAC Ấn Độ trắng VIKRAM AC 100SHàm lượng từ 30% trở lên, màu trắngNước cấp cần kiểm soát màu
PAC Vàng ChanhHàm lượng từ 29% trở lênCần bông to và lắng nhanh

Dòng PAC Việt Trì 31% hợp với trạm cấp nước xã và cụm dân cư cùng nước thải nhẹ, nơi cần liều ổn định và dễ kiểm soát pH sau xử lý. Trạm cấp nước đục trung bình dưới 200 NTU thường bắt đầu với dòng này rồi chốt bằng thí nghiệm cốc.

Dòng PAC Trung Quốc Vàng Nghệ hợp với nước thải công nghiệp nặng như dệt nhuộm, giấy, thực phẩm, xi mạ, nơi cặn lơ lửng và COD cao, liều thường lên 30–60 mg/L trở lên. Khi tải ô nhiễm cao, trạm tính lại q theo liều mới, không giữ q của nước nhẹ.

Dòng PAC trắng Ấn Độ VIKRAM AC 100S hợp với nước cấp yêu cầu khắt khe về màu sau xử lý, nhờ màu trắng ít gây ám màu. Trạm nào nước sau lắng còn vàng nhẹ thì cân nhắc đổi sang dòng trắng rồi chạy lại dãy cốc để so sánh độ đục và màu cùng lúc.

Dòng PAC Vàng Chanh hợp với trạm cần bông to và lắng nhanh, bể lắng quá tải hoặc lưu lượng tăng đột biến mùa mưa. Bông to giúp mặt lắng trong nhanh, giảm tải cho lọc phía sau.

Tiêu chí chọn theo chỉ tiêu nước thô

Nhìn 4 chỉ tiêu là đủ chốt: độ đục NTU quyết định nấc liều khởi điểm; màu Pt-Co quyết định có cần dòng trắng ít ám màu hay không; pH quyết định có nằm trong dải tối ưu 6,0–8,0 hay cần hiệu chỉnh; cặn lơ lửng và COD quyết định liều có phải lên cao như nhóm dệt nhuộm hay giấy hay không. Đo pH sau thí nghiệm cốc, không chỉ đo trước, vì pH cuối mới phản ánh điều kiện keo tụ thật. Khi đổi dòng PAC, nhớ quy đổi liều theo hàm lượng Al2O3 đã nêu ở mục trên.

Trạm cần đối chiếu với quy định quản lý hóa chất hiện hành có thể đọc thêm quy định mới về quản lý hóa chất năm 2026. Trạm xử lý nước đục mùa mưa muốn so sánh PAC với phèn nhôm truyền thống có thể đọc bài so sánh PAC và phèn nhôm cho nước đục mùa mưa. Trạm có nhu cầu khử phospho đọc hướng dẫn khử phospho bằng PAC và muối sắt. Hai việc vận hành đi kèm là nhật ký vận hành trạm và quản lý bùn từ keo tụ PAC.

Kỹ sư bên bồn pha PAC và bơm định lượng trong trạm xử lý
Chọn đúng dòng PAC theo NTU, màu và pH giúp liều tính được phát huy hết

Khi nào là quá liều: đường cong chữ U và đảo điện tích

Tính đúng đã khó, nhận ra mình đang quá liều còn quan trọng hơn, vì quá liều không chỉ tốn tiền mà còn làm nước đục trở lại. Hiểu đường cong chữ U giúp ca trực bình tĩnh giảm liều thay vì cuống lên tăng thêm.

Đường cong chữ U: qua điểm tối ưu thì hiệu quả tụt xuống

Kết quả 6 cốc khi vẽ lên đồ thị tạo thành hình chữ U với đáy là liều tối ưu. Tăng liều từ thấp lên, độ đục giảm dần tới đáy; qua đáy mà tăng tiếp thì độ đục tăng trở lại thành nhánh phải của chữ U. Nhánh phải này chính là vùng quá liều. PAC có rủi ro quá liều cao hơn một số muối sắt tiền thủy phân khác, nên không có chuyện cứ tăng là càng trong.

Đảo điện tích khiến hạt mịn không chịu lắng

Bản chất của quá liều PAC là đảo điện tích bề mặt hạt keo từ âm sang dương (charge reversal). Hạt keo lúc này mang cùng điện tích dương nên đẩy nhau, không kết lại thành bông, tồn tại ở dạng hạt mịn quanh 1 micromet lơ lửng trong nước. Hệ quả là nước sau lắng vẫn đục, lọc phía sau quá tải và chu kỳ lọc rút ngắn. Quan niệm cho rằng PAC tiền thủy phân thì không thể quá liều là sai, thực tế quá liều PAC vẫn xảy ra và đo được bằng máy đo đục. Có trường hợp tăng liều PAC đột ngột còn phá vỡ hoàn toàn lớp bùn lơ lửng trong bể lắng do pH cục bộ tụt tại điểm châm cộng với đảo điện tích.

Dấu hiệu nhận biết trên bể thật

Trên bể thật, quá liều thường lộ qua bông cặn nhỏ rời rạc không lớn lên được, mặt nước có màng mờ, nước sau lắng đo vẫn đục dù đã tăng liều. Nhiều ca trực thấy đục lại tăng liều, càng tăng càng đục, đó chính là đang đi lên nhánh phải của chữ U. Cách xử đúng là giảm liều 10–20%, kiểm tra lại khâu khuấy nhanh có phân tán đều không, rồi đo lại đục sau 30 phút. Nếu bông nhỏ do phân tán kém thì cải thiện khuấy nhanh; nếu do quá liều thì giảm liều, hai nguyên nhân này hay đi cùng nhau.

Khi nào phải chạy lại thí nghiệm cốc

Chạy lại ngay khi độ đục nước thô thay đổi gấp 2–3 lần, khi đổi nguồn nước, khi đổi dòng PAC hoặc khi thời tiết chuyển sang mùa mưa. Có nghiên cứu ghi nhận liều trên 20 mg/L tại pH 6,0 làm bề mặt hạt keo bão hòa ion nhôm dương rồi đẩy nhau khiến đục và màu tăng, trong khi tối ưu của nguồn nước đó chỉ 15 mg/L tại pH 7,5–8,0 với nước thô 10–30 NTU. Con số này nhắc một điều giản dị: cùng một nguồn nước, pH khác nhau thì đáp số khác nhau, liều hôm qua đúng chưa chắc hôm nay còn đúng.

Đồ thị đường cong chữ U liều PAC và độ đục còn lại
Đường cong chữ U: qua liều tối ưu mà tăng tiếp thì nước đục trở lại

Câu hỏi vận hành thường gặp

NTU của trạm tôi thì bơm đang có phải chạy bao nhiêu L/h

Lấy liều mg/L đã chốt bằng cốc, nhân với lưu lượng Q của trạm rồi chia cho S là nồng độ dung dịch đang châm. Ví dụ liều 30 mg/L cho Q 20 m³/h với dung dịch 5% thì q = 12 L/h, cộng biên thành khoảng 13,2 L/h. Thay đúng 3 số của trạm mình vào là ra số bơm.

Bồn pha bao nhiêu kg PAC cho bao nhiêu lít nước châm

Nhân S với thể tích bồn rồi chia 1.000 ra kg bột mỗi mẻ. Bồn 1.000 L pha 5% cần 50 kg bột, tương đương 2 bao 25 kg. PAC lỏng thì không cần pha, bơm trực tiếp theo nồng độ gốc.

Mỗi ngày trạm hết mấy bao 25 kg

Lấy liều mg/L nhân sản lượng m³/ngày chia 1.000 rồi chia cho phần hàm lượng Al2O3 ra kg bột mỗi ngày, chia tiếp cho 25 ra số bao. Ví dụ 25 mg/L cho 4.800 m³/ngày với PAC 30% ra 400 kg, tương đương 16 bao 25 kg. Giữ tồn an toàn 7–14 ngày để không hụt khi NTU tăng đột biến.

Trạm đang dùng đúng dòng PAC trong 4 dòng của shop chưa

Nước cấp và thải nhẹ ưu tiên PAC Việt Trì; thải công nghiệp nặng ưu tiên PAC Vàng Nghệ; nước cấp cần kiểm soát màu ưu tiên PAC trắng Ấn Độ; trạm cần bông to lắng nhanh ưu tiên PAC Vàng Chanh. Đổi dòng nào cũng chạy lại dãy cốc rồi tính lại bơm.

Khi nào biết mình đang quá liều và xử lý thế nào

Dấu hiệu là tăng liều mà nước không trong thêm, bông nhỏ rời rạc, mặt nước có màng mờ, đo đục sau lắng tăng trở lại. Cách xử là giảm liều 10–20%, kiểm tra khuấy nhanh, đo lại sau 30 phút. Liều vận hành luôn giữ thấp hơn điểm đảo điện tích 10–15%.

Dung dịch stock 1% dùng được bao lâu, có để qua đêm không

Dùng trong ngày, không để quá 24 giờ. Dung dịch loãng để lâu dễ thủy phân làm giảm hiệu quả; pha mẻ mới cho ngày làm việc tiếp theo nhanh hơn nhiều so với việc xử lý cả bể nước hỏng do stock cũ.

pH tối ưu khi châm PAC là bao nhiêu, đo trước hay sau thí nghiệm

Dải tối ưu thường 6,0–8,0; đo cả trước và sau thí nghiệm cốc, trong đó pH sau quan trọng hơn vì phản ánh điều kiện keo tụ thật. Ghi song song pH và đục từng cốc để chốt đúng.

PAC lỏng có cần pha không, bơm trực tiếp được không

PAC lỏng bơm trực tiếp được, không cần bồn pha. Chỉ cần biết đúng nồng độ gốc để thay vào công thức q, ví dụ PAC lỏng 10% thì S = 100 g/L. Ghi rõ hàm lượng trong nhật ký để ca sau không nhầm.

Trọn mạch tính gói trong một câu để mang ra hiện trường: đo NTU để có điểm xuất phát, chốt mg/L bằng 6 cốc trên mẫu nước của mình, đổi sang L/h bằng liều × Q / S, đổi sang bồn pha và bao/ngày để kho chủ động, giữ liều thấp hơn điểm đảo điện tích và giữ bơm trong khoảng tải 30–80%. Bấm đúng thứ tự này thì số nào cũng ra; số nào lệch thì quay lại cốc mà chốt lại, trạm nào cũng làm được.

Dùng trong bài

sản phẩm liên quan

Bài viết liên quan

Muốn có mức giá tốt nhất?

Nhận giải pháp cho đơn vị của quý khách trong ngành xử lý nước

Gửi thông tin hệ thống và nhu cầu hóa chất — Gia Hoàng đề xuất phương án kỹ thuật kèm báo giá theo khối lượng.

Báo giá