Bỏ qua điều hướng
Bản dịch máy —
Gia Hoàng Nhập khẩu hóa chất & Giải pháp môi trường
Yêu cầu báo giá
Nông nghiệp, thuỷ sản & phân bón

Bón phân cho lúa theo IRRI: dinh dưỡng theo giai đoạn sinh trưởng

Ruộng lúa cũng như người lao động nặng. Lúc mạ non, lúc đẻ nhánh, lúc nuôi đòng, mỗi chặng cây lại cần một khẩu phần khác nhau. Bón đúng chất, đúng lúc thì cây khỏe, đòng to, hạt chắc. Bón lệch pha thì phân trôi theo nước, cây mềm yếu mà năng suất không lên.

Bài này là sổ tay đồng ruộng rút gọn từ IRRI Rice Knowledge Bank, đã chỉnh cho hợp với ruộng lúa nước tưới ở Việt Nam. Đọc xong, bà con mang ra ruộng được ba thứ:

  • Khung sinh trưởng và cách tính liều theo năng suất mình định lấy.
  • Cách chia đạm theo màu lá, cách xếp lân, kali, kẽm, silic đúng cửa sổ.
  • Cách gắn lịch bón vào chế độ nước.

Bối cảnh rộng hơn, bà con xem thêm toàn cảnh ngành phân bón toàn cầu qua báo cáo IFA.

Vì sao phải bón theo giai đoạn

Cây lúa không ăn đều từ đầu tới cuối vụ. IRRI chia vòng đời cây làm ba pha:

  • Pha sinh dưỡng: từ nảy mầm tới đẻ nhánh rộ. Cây dựng rễ, ra lá, đẻ nhánh. Cần lân sớm và đạm vừa phải để tạo khung tán.
  • Pha sinh thực: từ phân hóa đòng tới trỗ và nở hoa. Cây dồn sức nuôi đòng. Cần kali và đạm đúng liều để đòng to, hoa khỏe.
  • Pha chín: từ vào chắc tới chín hoàn toàn. Cây chuyển chất dự trữ về hạt. Việc chính là giữ lá đòng xanh lâu và giữ nước cho hạt chắc đều.

Vài mốc thời gian bà con hay gặp: DAT là số ngày sau cấy, DAS là số ngày sau sạ. Ruộng cấy và ruộng sạ thẳng lệch nhau khoảng một tuần ở cùng một mốc sinh lý, nên bài này ghi cả hai mốc để tra ngoài đồng cho tiện.

Cách làm của IRRI gọi là SSNM, nghĩa là bón theo nhu cầu của từng thửa ruộng, từng mùa vụ. Ba bước gọn như sau:

  • Bước 1: Chốt năng suất định lấy cho chính ruộng mình, dựa vào vụ tốt đã làm được, đừng lấy con số kỷ lục.
  • Bước 2: Tận dụng cái ruộng sẵn có: đạm trong đất, rơm rạ trả lại, phân hữu cơ, nước tưới mang phù sa.
  • Bước 3: Còn thiếu bao nhiêu mới bón bù bằng phân vô cơ, tính theo từng chất N, P, K.

Chi tiết ba bước này IRRI trình bày trong trang SSNM của Rice Knowledge Bank và chuyên mục độ phì đất và dinh dưỡng lúa. Làm đúng thứ tự này thì liều phân luôn gắn với năng suất định lấy, không bón thừa theo thói quen.

Để làm ra một tấn thóc, cây lúa lấy đi khoảng 16 kg đạm, khoảng 6,4 kg lân và khoảng 19 kg kali quy đổi. Ruộng đặt mục tiêu 6 tấn một héc ta rút đi gấp rưỡi ruộng chỉ thu 4 tấn. Bón bằng nhau cho hai ruộng đó thì một nơi thừa, một nơi thiếu. Mọi lịch bón nghiêm túc đều bắt đầu từ câu hỏi: ruộng này định lấy bao nhiêu tấn, rồi mới tính phân cần bù.

Ruộng lúa Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn đẻ nhánh cần bón phân theo giai đoạn sinh trưởng
Ruộng lúa pha sinh dưỡng ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đẻ nhánh khỏe thì khung năng suất mới chắc.

Đạm: chia nhiều đợt, đọc lá bằng thang màu LCC

Trong các chất, đạm dễ mất nhất qua nước, bay hơi và rửa trôi. Nắm được đạm thì lịch bón gọn đi một nửa. Theo quản lý đạm cho lúa của IRRI, để tạo một tấn thóc cây cần hút khoảng 16 kg đạm, trong đó khoảng 10 kg nằm trong hạt và 6 kg nằm trong rơm.

Cách chia đạm của IRRI rất nhẹ nhàng: đừng dồn một lần cho yên tâm, mà chia nhỏ để cây ăn tới đâu có tới đó.

  • Bón nhẹ một lần sớm trong 14 ngày sau cấy hoặc 21 ngày sau sạ cho cây bén rễ.
  • Các đợt sau căn theo màu lá chứ đừng bón cứng theo ngày. Thường 2 tới 4 lần tùy giống, vụ và đất.
  • Mỗi lần tăng giảm quanh 10 kg đạm một héc ta theo kết quả đọc lá. Nguyên tắc chung là nặng đầu nhẹ cuối, nhưng tăng hay giảm là do lá quyết.

Thước đo là LCC, thang màu lá từ vàng nhạt tới xanh đậm. IRRI hướng dẫn trong trang thang màu lá của Rice Knowledge Bank. Cách đọc ngoài đồng như sau:

  • Từ đầu đẻ nhánh tới khoảng 5 đến 10 ngày sau phân hóa đòng, cứ 7 đến 10 ngày đọc một lần.
  • Mỗi lần chọn khoảng 10 khóm đại diện, lấy lá mới nhất trên cùng, kẹp vào giữa thang màu, soi dưới bóng râm của mình cho khỏi lóa.
  • Lá nhạt hơn ngưỡng của giống thì thúc đạm. Lá bằng hoặc đậm hơn ngưỡng thì nghỉ, đợi lần sau. Ngưỡng thường quanh mức 3 hoặc 4, hỏi thêm trạm khuyến nông cho giống mình đang trồng.

Ruộng thừa đạm rất dễ nhận: lá xanh đậm bất thường, bản lá mềm rũ, cây vóng cao, sâu cuốn lá và rầy kéo tới, tới trỗ thì lép nhiều và dễ đổ khi gặp mưa gió. Khi lá đã xanh đậm vượt ngưỡng, việc đúng nhất là dừng đạm, giữ nước hợp lý và đợi lá trở lại bình thường. Nhớ một câu khi ra đồng: lá nhạt hơn thước thì thúc, lá đậm hơn thước thì nghỉ.

Nông dân Việt Nam đọc thang màu lá LCC để quyết định bón thúc đạm cho lúa
Đọc LCC định kỳ từ đầu đẻ nhánh tới sau phân hóa đòng: dưới ngưỡng thì thúc, trên ngưỡng thì phanh.

Lân và kali: bón sớm từ đầu, dồn kali đón đòng

Lân và kali đi hai cửa sổ ngược nhau. Lân lo rễ và đẻ nhánh nên phải có mặt từ sớm. Kali nuôi đòng và vào chắc nên dồn về giai đoạn sinh thực. Trộn chung hai nhịp này làm một đợt là cách hao phân nhất.

Với lân, mỗi tấn thóc lấy đi khoảng 6,4 kg lân quy đổi. IRRI khuyên bón toàn bộ lân trước lần bừa cuối, hoặc trong 10 đến 15 ngày sau sạ với ruộng gieo sạ. Bón muộn hơn cây không kịp dùng cho ra rễ và đẻ nhánh. Ruộng thiếu lân thường thấp cây, lá xanh đậm mà dựng đứng, đẻ nhánh ít, trỗ và chín chậm. Muốn hiểu vì sao lân gắn với axit sunfuric, bà con đọc thêm bài về H2SO4 trong sản xuất phân bón.

Với kali, mỗi tấn thóc lấy đi khoảng 19 kg kali quy đổi, mà chỉ khoảng 2,2 kg nằm trong hạt, còn lại nằm trong rơm. Ai chở hết rơm ra khỏi đồng năm này qua năm khác thì ruộng hụt kali rất nhanh. Rơm giữ lại chứa khoảng 14 kg kali mỗi tấn rơm khô, là nguồn kali rẻ nhất hay bị bỏ phí. Khi liều kali vượt 30 kg một héc ta, IRRI gợi ý chia đôi: một nửa bón lót, một nửa bón lúc phân hóa đòng để đón đòng.

Ruộng mình còn hai nguồn kali miễn phí hay bị quên:

  • Rơm rạ giữ lại trên ruộng.
  • Nước tưới mang phù sa, ở nhiều vùng phía Nam có thêm kali đáng kể.
Nhớ nhanh nhịp NPK qua các pha
  • Tăng trưởng: ưu tiên đạm cao, quanh 3:2:1 hoặc 3:1:1.
  • Nuôi đòng: nâng lân, quanh 1:2:1.
  • Nuôi hạt: nâng kali, quanh 2:0:2 hoặc 3:1:3.

Đây là tỉ lệ định hướng. Liều thực tế vẫn quy từ năng suất định lấy và dinh dưỡng sẵn có của ruộng. Chỉ cần nhớ: lân đi sớm, kali đón đòng, đạm theo màu lá.

Kẽm và silic: hai chất hay bị bỏ sót

Kẽm và silic ít được nhắc tới, nhưng thiếu thì năng suất bị kéo xuống âm thầm. Dấu hiệu nằm trên lá, dễ nhầm với bệnh, nên phải nhìn kỹ vị trí lá và dạng đốm.

Kẽm cần rất ít mà phải bón khá nhiều vì kẽm kém di động trong đất. IRRI ghi liều phổ biến khoảng 10 đến 25 kg kẽm sunfat một nước, hoặc 20 đến 40 kg kẽm sunfat bảy nước một héc ta. Một cách khác là nhúng rễ mạ vào dung dịch oxit kẽm 2 đến 4 phần trăm trước khi cấy. Thiếu kẽm thường lộ sau cấy 2 đến 4 tuần: lá non có bụi đốm nâu, cây còi, đẻ nhánh kém.

Thiếu silic thì lá và bẹ mềm rũ, ruộng um tùm, dễ nhiễm đạo ôn và đốm nâu, tới vào chắc thì dễ đổ. Nguồn silic rẻ nhất nằm ngay trong rơm rạ: rơm chứa khoảng 5 đến 6 phần trăm silic, trấu chứa khoảng 10 phần trăm. Giữ lại rơm trấu là giữ silic.

Dấu hiệuThiếu kẽmThiếu silic
Vị trí láLá non trên cùngCả tán, rõ ở lá đòng mềm rũ
Dạng vếtBụi đốm nâu nhỏ trên nền láKhông đốm đặc trưng, lá mềm, dễ bệnh
Lộ rõ khi nào2 đến 4 tuần sau cấyĐẻ nhánh muộn tới trỗ và vào chắc
Cách gỡTháo khô thoáng ruộng, bón kẽm sunfat hoặc nhúng rễGiữ rơm trấu, giữ ngập hợp lý, bổ sung xỉ silicat khi hụt nặng

Khác biệt nằm ở vị trí lá. Đốm trên lá non nghĩ tới kẽm trước. Cả ruộng mềm rũ, dễ bệnh dù đạm không thừa nghĩ tới silic. Nhìn đúng chỗ thì khỏi phun nhầm thuốc bệnh trong khi cây đang đói vi lượng.

Nước quyết định phân có phát huy hay không

Cùng một lượng phân, ruộng giữ nước tốt cho hiệu quả cao hơn hẳn. Nắm hai chế độ nước cơ bản rồi gắn lịch bón vào đó thì phân mới phát huy hết.

  • Ngập liên tục: sau cấy giữ khoảng 3 cm cho mạ bén rễ, rồi nâng dần 5 đến 10 cm theo chiều cao cây. Quanh trỗ giữ khoảng 5 cm cho hoa thụ phấn. Trước thu hoạch rút cạn 7 đến 10 ngày cho ruộng cứng chân.
  • AWD, ngập khô xen kẽ: cắm ống pani pipe xuống ruộng để nhìn mực nước ngầm. Nước trong ống tụt xuống 15 cm dưới mặt thì cho nước vào lại tới ngập khoảng 5 cm.
Cách theo dõi mực nước AWD bằng ống pani pipe trên ruộng lúa
Theo dõi ống pani pipe: nước tụt 15 cm dưới mặt thì tưới lại tới 5 cm, giữ ngập quanh trỗ.

Ba mốc an toàn khi làm AWD bà con nhớ kỹ:

  • Giữ ngập liên tục một tuần trước tới một tuần sau trỗ, đừng để khô đúng lúc hoa nở.
  • Bắt đầu AWD khoảng 1 đến 2 tuần sau cấy cho rễ bám chắc.
  • Ruộng nhiều cỏ thì hoãn AWD 2 đến 3 tuần, giữ ngập để ép cỏ trước.

Điểm nối giữa nước và phân: bón đạm lúc đất vừa se rồi mới cho nước vào. Đạm theo nước thấm xuống vùng rễ thay vì trôi bề mặt.

Lịch bón gọn và cách nhìn lá cho đồng ruộng Việt Nam

MốcĐạmLân và kaliKẽm, silic và nước
Bón lótChưa bón nhiều, chờ bén rễCả lân, nửa kali khi liều caoKẽm nếu đất thiếu, giữ nông 3 cm
Đẻ nhánhĐạm theo màu lá LCCKhông thêm lânGiữ rơm, tháo khô nhẹ nếu thiếu kẽm
Đón đòngVừa đủ giữ lá đòng xanhNốt nửa kali đón đòngGiữ ngập ổn định, nhất là quanh trỗ
Nuôi hạt và chínGiảm phân mớiKhông bón thêmGiữ lá xanh, rút cạn 7 đến 10 ngày trước gặt

Cách nhìn lá đoán thiếu chất, gói gọn trong năm câu:

  • Lá nhạt hơn thang màu: nghĩ tới thiếu đạm.
  • Lá xanh đậm mà dựng đứng, cây thấp, đẻ ít, chín chậm: nghĩ tới thiếu lân.
  • Chóp và mép lá già có đốm nâu như gỉ, lép nhiều: nghĩ tới thiếu kali.
  • Lá non có bụi đốm nâu sau cấy vài tuần: nghĩ tới thiếu kẽm.
  • Cả ruộng mềm rũ, dễ bệnh, dễ đổ dù đạm không thừa: nghĩ tới thiếu silic.
Công cụ miễn phí của IRRI bản Việt

Mang ra đồng, bà con chỉ cần nhớ ba thứ. Một lịch bốn mốc từ lót tới chín. Một thang màu lá để quyết đạm theo mắt nhìn chứ không theo thói quen. Một cách nhìn nước đi cùng phân, bón lúc đất se rồi cho nước vào, giữ ngập quanh trỗ và rút cạn trước gặt. Ruộng bón đúng không phải ruộng bón nhiều nhất, mà là ruộng bón đúng chất vào đúng lúc cây cần.

Dùng trong bài

sản phẩm liên quan

Bài viết liên quan

Muốn có mức giá tốt nhất?

Nhận giải pháp cho đơn vị của quý khách trong ngành xử lý nước

Gửi thông tin hệ thống và nhu cầu hóa chất — Gia Hoàng đề xuất phương án kỹ thuật kèm báo giá theo khối lượng.

Báo giá